Thứ Năm, 31 tháng 1, 2019

Nguy cơ lây HIV qua đường miệng "Oral Sex" có cao không? HIV có lây qua nước bọt không?

QUAN HỆ BẰNG MIỆNG "ORAL SEX", NƯỚC BỌT VÀ HIV

         Có rất nhiều người muốn tận hưởng cảm giác khoái lạc, sự hưng phấn, và trải nghiệm khác lạ bằng quan hệ bằng miệng "Oral Sex". Tuy nhiên con đường quan hệ bằng miệng này lại đem lại rất nhiều sự lo lắng và không an tâm cho những người vừa thực hiện điều đó. Ai cũng có suy nghĩ liệu mình sẽ bị lây bệnh HIV? Liệu mình sẽ phải đối mặt với sự nguy hiểm ấy trong bao lâu? Có cách nào cứu thoát khỏi ám ảnh ấy? Từ này về sau chắc sẽ chẳng dám làm như vậy nữa? Rồi lại tự trấn an mình bằng những suy nghĩ: Chắc là nguy cơ lây HIV do đường Oral Sex không cao. Chắc là đối tượng kia không bị HIV, chắc là mình sẽ không nhiễm HIV. Chắc là cứ mặc kệ cũng qua thôi mà. Chắc là những hành động của mình không gây sướt sát gì nên cũng giảm khả năng lây HIV...Hàng loạt điều chắc là này mà không biết cách xử trí kịp thời thì có lẽ ngồi "Ôm hận ngàn thu".
         Những thắc mắc băn khoăn này rất, rất nhiều người đã và đang mắc phải, có người biết thì thoát án, có người chủ quan, nay đã không còn cơ hội làm lại. Khẳng định với các bạn luôn để khỏi lo lắng, băn khoăn hay hoài nghi liệu rằng mình có nguy cơ lây HIV hay không và nguy cơ lây HIV do quan hệ bằng miệng "Oral Sex" có cao không, HIV có lây qua nước bọt hay không, RẰNG:

  1. Tất cả những đối tượng có hành vi quan hệ tình dục không an toàn bằng đường miệng đều có nguy cơ lây HIV dù thấp hay cao, dù ít hay nhiều (mút, ngậm dương vật, bú liếm âm vật, âm đạo...)
  2. HIV không lây qua nước bọt đơn thuần (ví dụ chỉ nhổ nước bọt lên da lành, lên dương vât, âm vật thì không lây HIV) nhưng mấy ai khi quan hệ Oral Sex lại chỉ đơn thuần như thế.
  3. Nguy cơ lây HIV cao hơn ở những đối tượng hành nghề mại dâm, gái mát xa "massage", quan hệ với nhiều bạn tình, quan hệ đồng giới...Hành vi thô bạo, quan hệ lúc say xỉn, quan hệ trong tình trạng "vụng trộm", quan hệ khi bạn tình hoặc bản thân mình có vấn đề viêm nhiễm ở cơ quan sinh dục đều có thể làm tăng khả năng lây nhiễm HIV.
  4. Dù nguy cơ lây nhiễm HIV thấp đến bao nhiêu, đã là có nguy cơ thì phải hành động ngay, bởi ai dám đám bảo chỉ 0,001% khả năng lây nhiễm HIV đó không rơi vào chính mình nếu không uống thuốc dự phòng phơi nhiễm HIV.
Nói tóm lại: Nguy cơ lây nhiễm HIV do quan hệ đường miệng "Oral Sex" là mặc dù tỉ lệ thấp. HIV không lây đơn thuần qua nước bọt.

Thứ Tư, 30 tháng 1, 2019

Chẩn đoán và điều trị BỆNH THỦY ĐẬU


BỆNH THỦY ĐẬU
1. ĐẠI CƯƠNG
Thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Herpes zoster gây nên, lây từ người sang người qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc gần. Thủy đậu xảy ra chủ yếu ở trẻ em, biểu hiện bằng sốt và phát ban dạng nốt phỏng, thường diễn biến lành tính. Ở người có suy giảm miễn dịch, phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh, thủy đậu có thể tiến triển nặng dẫn đến các biến chứng nội tạng như viêm phổi, viêm cơ tim và có thể dẫn tới tử vong.
Thủy đậu là bệnh dễ lây truyền; tỷ lệ lây nhiễm lên đến 90% ở những người chưa có miễn dịch. Bệnh thường xuất hiện thành dịch ở trẻ em lứa tuổi đi học.
2. NGUYÊN NHÂN
Tác nhân gây thủy đậu là virus Herpes zoster, thuộc họ Herpeviridae. Virus thủy đậu lây truyền qua đường hô hấp. Nguồn lây lớn nhất là người bị thủy đậu; người bệnh có khả năng lây cho người khác khoảng 48 giờ trước khi xuất hiện ban, trong giai đoạn phát ban (thường kéo dài 4-5 ngày), và cho đến khi ban đóng vảy.
3. CHẨN ĐOÁN
3.1. Lâm sàng
Giai đoạn ủ bệnh dao động từ 10 đến 21 ngày, thường 14-17 ngày.
Giai đoạn tiền triệu thường kéo dài 1-2 ngày trước khi xuất hiện ban. Người bệnh mệt mỏi, sốt từ 37,8°-39,4°C kéo dài 3 đến 5 ngày.
Ban trên da xuất hiện đầu tiên trên mặt và thân, nhanh chóng lan ra tất cả các vùng khác trên cơ thể.
Ban lúc đầu có dạng dát sẩn, tiến triển đến phỏng nước trong vòng vài giờ đến một vài ngày; phần lớn các nốt phỏng có kích thước nhỏ 5-10 mm, có vùng viền đỏ xung quanh. Các tổn thương da có dạng tròn hoặc bầu dục; vùng giữa vết phỏng dần trở nên lõm khi quá trình thoái triển của tổn thương bắt đầu.
Các nốt phỏng ban đầu có dịch trong, dạng giọt sương, sau đó dịch trở nên đục; nốt phỏng bị vỡ hoặc thoái triển, đóng vảy; vảy rụng sau 1 đến 2 tuần, để lại một sẹo lõm nông.
Ban xuất hiện từng đợt liên tiếp trong 2-4 ngày; trên mỗi vùng da có thể có mặt tất cả các giai đoạn của ban - dát sẩn, phỏng nước và vảy.
Tổn thương thủy đậu có thể gặp cả ở niêm mạc hầu họng và/hoặc âm đạo.
Số lượng và mức độ nặng của ban rất khác biệt giữa các người bệnh. Trẻ nhỏ thường có ít ban hơn so với trẻ lớn hơn; các ca bệnh thứ cấp và tam cấp trong gia đình thường có số lượng ban nhiều hơn.

Người suy giảm miễn dịch - cả trẻ em và người lớn, nhất là người bệnh ung thư máu - thường có nhiều tổn thương hơn, có xuất huyết ở nền nốt phỏng, tổn thương lâu liền hơn so với người không suy giảm miễn dịch. Người suy giảm miễn dịch cũng có nguy cơ cao hơn bị các biến chứng nội tạng (xuất hiện ở 30-50% số ca bệnh); tỷ lệ tử vong có thể lên tới 15% khi không có điều trị kháng virus.
3.2. Cận lâm sàng
Công thức máu: bạch cầu bình thường, có thể giảm như trong các bệnh nhiễm virus khác.
Sinh hóa máu: có thể có tăng men gan.
3.3. Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán thủy đậu chủ yếu dựa trên lâm sàng và không cần xét nghiệm khẳng định. Ban thủy đậu đặc trưng dạng phỏng nhiều lứa tuổi rải rác toàn thân ở người bệnh có tiền sử tiếp xúc với người bị thủy đậu là những gợi ý cho chẩn đoán.
Các xét nghiệm khẳng định thủy đậu không sẵn có trong lâm sàng và rất ít khi được sử dụng; bao gồm:
Xét nghiệm dịch nốt phỏng: Lam Tzanck tìm tế bào khổng lồ đa nhân, PCR xác định ADN của Herpes zoster, v.v...
Xét nghiệm huyết thanh học: xác định chuyển đảo huyết thanh hoặc tăng hiệu giá kháng thể với Herpes zoster, v.v...
3.4. Chẩn đoán phân biệt
Cần phân biệt thủy đậu với một số bệnh có phát ban dạng phỏng nước như bệnh tay chân miệng liên quan tới Enterovirus, bệnh do Herpes simplex, viêm da mủ và một số bệnh khác. 

+ Bệnh tay chân miệng do Enterovirus cũng có ban dạng phỏng nước, có cả ở niêm mạc (miệng, họng) như thủy đậu. Tuy nhiên ban trong tay chân miệng có dạng nhỏ hơn, phân bố tập trung ở tay chân và mông, có cả ở lòng bàn tay và bàn chân. 
+ Ban do Herpes simplex thường tập trung ở các vùng da chuyển tiếp niêm mạc quanh các hốc tự nhiên, không phân bố ở toàn bộ cơ thể như thủy đậu.
4. ĐIỀU TRỊ
4.1. Nguyên tắc điều trị
Điều trị thủy đậu ở người miễn dịch bình thường chủ yếu là điều trị hỗ trợ, bao gồm hạ nhiệt và chăm sóc tổn thương da. Điều trị kháng virus Herpes có tác dụng giảm mức độ nặng và thời gian bị bệnh, đặc biệt có chỉ định đối với những trường hợp suy giảm miễn dịch.
4.2. Điều trị kháng virus
Acyclovir uống 800 mg 5 lần/ngày trong 5-7 ngày; trẻ dưới 12 tuổi có thể dùng liều 20 mg/kg 6 giờ một lần. Điều trị có tác dụng tốt nhất khi bắt đầu sớm, trong vòng 24 giờ đầu sau khi phát ban.

Người bệnh suy giảm miễn dịch nặng, thủy đậu biến chứng viêm não: ưu tiên acyclovir tĩnh mạch, ít nhất trong giai đoạn đầu, liều 10-12,5 mg/kg, 8 giờ một lần, để làm giảm các biến chứng nội tạng. Thời gian điều trị là 7 ngày. Đối với người bệnh suy giảm miễn dịch nguy cơ thấp có thể chỉ cần điều trị bằng thuốc kháng virus uống.
4.3. Điều trị hỗ trợ
Điều trị hạ nhiệt bằng paracetamol; tránh dùng aspirin để ngăn ngừa hội chứng Reye.
Điều trị kháng histamin nếu người bệnh ngứa tại nơi tổn thương da.
Chăm sóc các tổn thương da: làm ẩm tổn thương trên da hàng ngày, bôi thuốc chống ngứa tại chỗ, ngăn ngừa bội nhiễm vi khuẩn bằng thuốc sát khuẩn tại chỗ (như các thuốc chứa muối nhôm acetat).
Điều trị hỗ trợ hô hấp tích cực khi người bệnh bị viêm phổi do thủy đậu.
Điều trị kháng sinh khi người bệnh thủy đậu có biến chứng bội nhiễm tổn thương da hoặc bội nhiễm tại các cơ quan khác.
5. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
a. Tiến triển
Thủy đậu thường tiến triển lành tính ở trẻ em nên ít khi cần phải nhập viện. Khi được điều trị acyclovir, thời gian sốt của người bệnh sẽ ngắn hơn và lượng tổn thương trên da sẽ ít hơn và chóng liền hơn.
b. Biến chứng
Bội nhiễm vi khuẩn các nốt ban, thường liên quan đến tụ cầu vàng hoặc liên cầu gây mủ.
Biến chứng hệ thần kinh trung ương:
Rối loạn tiểu não và viêm màng não, thường gặp ở trẻ em, thường xuất hiện khoảng 21 ngày sau khi phát ban, hiếm khi xảy ra trước khi phát ban. Dịch não tủy có tăng protein và bạch cầu lympho.
Viêm não, viêm tủy cắt ngang, hội chứng Guillain-Barré, và hội chứng Reye.
Viêm phổi: là biến chứng nguy hiểm nhất của thủy đậu, thường gặp ở người lớn, đặc biệt là phụ nữ mang thai; thường bắt đầu 3-5 ngày sau khi bắt đầu phát ban, có thể dẫn đến suy hô hấp và ho ra máu. Phim X-quang phổi có tổn thương nốt và tổn thương kẽ.
Viêm cơ tim, tổn thương giác mạc, viêm thận, viêm khớp, tình trạng xuất huyết, viêm cầu thận cấp, và viêm gan.
Thủy đậu chu sinh xuất hiện khi mẹ bị bệnh trong vòng 5 ngày trước khi sinh hoặc trong vòng 48 giờ sau khi sinh, thường rất nặng và trẻ có nguy cơ tử vong cao (có thể lên tới 30%). Thủy đậu bẩm sinh với các biểu hiện thiểu sản chi, tổn thương sẹo trên da và não nhỏ khi sinh rất hiếm gặp.

6. DỰ PHÒNG
6.1. Tiêm phòng vaccin
Vaccin thủy đậu là vaccin sống giảm độc lực, được chỉ định cho tất cả trẻ em trên 1 tuổi (cho tới 12 tuổi) chưa mắc thủy đậu và người lớn chưa có kháng thể với Herpes zoster. Vaccin thủy đậu có tính an toàn và hiệu quả cao.
Trẻ em cần được tiêm một liều vaccin và người lớn được tiêm hai liều. Một số trường hợp có thể có thủy đậu sau tiêm phòng.
Không tiêm vaccin thủy đậu cho trẻ suy giảm miễn dịch nặng (trẻ nhiễm HIV có triệu chứng).
6.2. Huyết thanh kháng thủy đậu (varicella-zoster immune globulin - VZIG) được chỉ định cho những người có nguy cơ bị biến chứng nặng do thủy đậu trong vòng 72 giờ sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh.
6.3. Dự phòng không đặc hiệu
Tránh tiếp xúc người bệnh bị thủy đậu hoặc zona.
Vệ sinh cá nhân.


Mua thuốc nhỏ mắt NEVANAC Lọ 5ml của Bỉ tốt nhất ở TPHCM (Sài Gòn)

Thành phần:
Mỗi ml chứa 1mg nepafenac.
Chỉ định: 
+Dự phòng và điều trị viêm và đau sau khi phẫu thuật đục thủy tinh thể.
+Giảm nguy cơ phù hoàng điểm sau phẫu thuật đục thủy tinh thể ở bệnh nhân tiểu đường.
Sản xuất: Alcon, Bỉ.
Giá: 165.000vnd/ Lọ 5ml.

Mua viên uống hỗ trợ tăng cường sinh lý nam KANGAROO MAN Lọ 30 viên màu xanh tốt nhất ở TPHCM (Sài Gòn)

Thành phần: Cao Tật lê, sâm eurycoma longifolia, Cao dâm dương hoắc, Ba kích, Thạch hộc...
Công dụng: Bổ thận tráng dương, giúp tăng nội tiết tố testosterol nam, giúp cải thiện tình trạng suy giảm sinh lý nam, yếu sinh lý, rối loạn cương dương, xuất tinh sớm...
Sản xuất: KINGPHAR, Việt Nam.
Giá: 120.000vnd/ Lọ 30 viên.

Mua viên uống hỗ trợ tăng cường sinh lý nam KA-MAN Lọ 40 viên tốt nhất ở TPHCM (Sài Gòn)

Thành phần: Cao Tật lê, sâm eurycoma longifolia, Cao dâm dương hoắc, Ba kích, Thạch hộc...
Công dụng: Bổ thận tráng dương, giúp tăng nội tiết tố testosterol nam, giúp cải thiện tình trạng suy giảm sinh lý nam, yếu sinh lý, rối loạn cương dương, xuất tinh sớm...
Sản xuất: KINGPHAR, Việt Nam.
Giá: 180.000vnd/ Lọ 40 viên.

Mua lọ thuốc kháng sinh tiêm tĩnh mạch ROCEPHIN 1g i.v của Thụy Sĩ tốt nhất ở TPHCM (Sài Gòn)

Thành phần: Ceftriaxon 1g.
Chỉ định: Tiêm tĩnh mạch điều trị nhiễm khuẩn nhạy cảm với kháng sinh ceftriaxon, đặc biệt tốt trong một số bệnh cụ thể như nhiễm Não mô cầu, bệnh Lậu...
Sản xuất: Roche, Thụy Sĩ.
Giá: 200.000vnd/ Lọ 1g hoạt chất + ống dung môi để pha thuốc.

Mua tuýp bôi chống viêm, giảm đau DICLOFENAC DIETHYLAMINE GEL Subsyde-M 20g tốt nhất ở TPHCM (Sài Gòn)

Thành phần: Diclofenac.
Chỉ định: Bôi ngoài da điều trị viêm cơ khớp, sưng đau do ngã, chấn thương phần mềm do đụng giập...
Sản xuất: Ấn Độ
Giá: 25.000vnd/ tuýp bôi 20g.

Công dụng của thuốc paracetamol 500mg

Paracetamol 500mg là thuốc gì? Paracetamol 500mg là thuốc giúp người bệnh điều trị các tình trạng đau từ nhẹ cho đến vừa phổ biến nhất trên ...